Cơ chế của dầu thôchất tách nhũ dầuCơ chế này dựa trên lý thuyết đảo pha - biến dạng ngược. Sau khi thêm chất phá nhũ, hiện tượng đảo pha xảy ra, tạo ra các chất hoạt động bề mặt tạo ra loại nhũ tương ngược với loại được tạo ra bởi chất nhũ hóa (chất phá nhũ ngược). Các chất phá nhũ này tương tác với các chất nhũ hóa kỵ nước để tạo thành phức hợp, do đó trung hòa các đặc tính nhũ hóa. Một cơ chế khác là sự phá vỡ màng liên bề mặt thông qua va chạm. Khi đun nóng hoặc khuấy trộn, các chất phá nhũ thường xuyên va chạm với màng liên bề mặt của nhũ tương - hoặc hấp phụ lên đó hoặc thay thế một số phân tử chất hoạt động bề mặt - làm mất ổn định màng, dẫn đến sự kết tụ, hợp nhất và cuối cùng là phá nhũ.
Nhũ tương dầu thô thường xuất hiện trong quá trình sản xuất và tinh chế dầu mỏ. Hầu hết dầu thô trên thế giới được sản xuất ở dạng nhũ tương. Nhũ tương bao gồm ít nhất hai chất lỏng không hòa tan, trong đó một chất được phân tán dưới dạng các giọt cực nhỏ (đường kính khoảng 1 mm) lơ lửng trong chất kia.
Thông thường, một trong hai chất lỏng này là nước, và chất còn lại là dầu. Dầu có thể được phân tán mịn trong nước, tạo thành nhũ tương dầu trong nước (O/W), trong đó nước là pha liên tục và dầu là pha phân tán. Ngược lại, nếu dầu là pha liên tục và nước được phân tán, nó sẽ tạo thành nhũ tương nước trong dầu (W/O). Hầu hết các nhũ tương dầu thô thuộc loại thứ hai này.
Trong những năm gần đây, nghiên cứu về cơ chế tách nhũ tương dầu thô đã tập trung vào việc quan sát chi tiết sự kết tụ giọt và tác động của chất tách nhũ tương lên tính chất lưu biến của bề mặt tiếp xúc. Tuy nhiên, do sự phức tạp của tương tác giữa chất tách nhũ tương và nhũ tương, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu sâu rộng, vẫn chưa có một lý thuyết thống nhất nào về cơ chế tách nhũ tương.
Một số cơ chế được chấp nhận rộng rãi bao gồm:
1. Sự thay thế phân tử: Các phân tử chất phá nhũ thay thế các phân tử chất nhũ hóa tại giao diện, làm mất ổn định nhũ tương.
2. Biến dạng nhăn: Các nghiên cứu hiển vi cho thấy nhũ tương W/O có hai hoặc nhiều lớp nước được ngăn cách bởi các vòng dầu. Dưới tác động của nhiệt độ, khuấy trộn và chất phá nhũ, các lớp này liên kết với nhau, gây ra hiện tượng kết tụ giọt.
Ngoài ra, các nghiên cứu trong nước về hệ nhũ tương dầu trong nước cho thấy chất tách nhũ lý tưởng phải đáp ứng các tiêu chí sau: hoạt tính bề mặt mạnh, khả năng thấm ướt tốt, khả năng keo tụ đầy đủ và hiệu quả kết tụ cao.
Các chất phá nhũ tương có thể được phân loại dựa trên loại chất hoạt động bề mặt:
•Các chất phá nhũ anion: Bao gồm carboxylate, sulfonate và polyoxyethylene fatty sulfate. Chúng kém hiệu quả hơn, cần liều lượng lớn và nhạy cảm với chất điện giải.
•Chất tách nhũ tương cation: Chủ yếu là muối amoni bậc bốn, hiệu quả với dầu nhẹ nhưng không phù hợp với dầu nặng hoặc dầu đã để lâu.
•Các chất tách nhũ tương không ion: Bao gồm các polyete khối được khởi tạo bởi amin hoặc rượu, polyete khối nhựa alkylphenol, polyete khối nhựa phenol-amin, chất tách nhũ tương gốc silicon, chất tách nhũ tương có trọng lượng phân tử cực cao, polyphosphat, polyete khối biến tính và chất tách nhũ tương lưỡng tính (ví dụ: chất tách nhũ tương dầu thô gốc imidazolin).
Thời gian đăng bài: 22/08/2025