Xu hướng phát triển không ngừng của chất hoạt động bề mặt trên toàn cầu tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển và mở rộng của ngành công nghiệp mỹ phẩm, từ đó đặt ra những yêu cầu ngày càng cao hơn đối với cấu trúc, chủng loại, hiệu năng và công nghệ sản phẩm. Do đó, việc phát triển một cách có hệ thống các chất hoạt động bề mặt an toàn, dịu nhẹ, dễ phân hủy sinh học và có chức năng đặc biệt là điều vô cùng cần thiết, từ đó tạo nền tảng lý thuyết cho việc tạo ra và ứng dụng các sản phẩm mới. Cần ưu tiên phát triển các chất hoạt động bề mặt gốc glycoside, cũng như đa dạng hóa các chất hoạt động bề mặt loại polyol và alcohol; tiến hành nghiên cứu có hệ thống về các chất hoạt động bề mặt có nguồn gốc từ phospholipid đậu nành; sản xuất một loạt các este axit béo sucrose; tăng cường nghiên cứu về công nghệ pha chế; và mở rộng phạm vi ứng dụng cho các sản phẩm hiện có.
Hiện tượng các chất không tan trong nước được nhũ hóa đồng nhất trong nước để tạo thành nhũ tương được gọi là quá trình nhũ hóa. Trong mỹ phẩm, chất nhũ hóa chủ yếu được sử dụng trong sản xuất kem và sữa dưỡng thể. Các loại phổ biến như kem tẩy trang dạng bột và kem tẩy trang “Zhongxing” đều là nhũ tương O/W (dầu trong nước), có thể được nhũ hóa bằng chất nhũ hóa anion như xà phòng axit béo. Việc nhũ hóa bằng xà phòng giúp dễ dàng thu được nhũ tương có hàm lượng dầu thấp, và tác dụng tạo gel của xà phòng giúp chúng có độ nhớt tương đối cao. Đối với kem lạnh chứa tỷ lệ pha dầu lớn, nhũ tương chủ yếu là loại W/O (nước trong dầu), trong đó lanolin tự nhiên - với khả năng hấp thụ nước mạnh và độ nhớt cao - có thể được chọn làm chất nhũ hóa. Hiện nay, chất nhũ hóa không ion được sử dụng rộng rãi nhất do tính an toàn và ít gây kích ứng.
Hiện tượng làm tăng độ hòa tan của các chất ít tan hoặc không tan được gọi là sự hòa tan. Khi thêm chất hoạt động bề mặt vào nước, sức căng bề mặt của nước ban đầu giảm mạnh, sau đó các cụm phân tử chất hoạt động bề mặt được gọi là micelle bắt đầu hình thành. Nồng độ chất hoạt động bề mặt mà tại đó sự hình thành micelle xảy ra được gọi là nồng độ micelle tới hạn (CMC). Khi nồng độ chất hoạt động bề mặt đạt đến CMC, các micelle có thể giữ lại dầu hoặc các hạt rắn ở đầu kỵ nước của phân tử chúng, do đó làm tăng độ hòa tan của các chất ít tan hoặc không tan.
Trong ngành mỹ phẩm, chất hòa tan chủ yếu được sử dụng trong sản xuất nước hoa hồng, dầu dưỡng tóc và các sản phẩm kích thích mọc tóc và dưỡng tóc. Vì các thành phần mỹ phẩm dạng dầu – như hương liệu, chất béo và vitamin tan trong dầu – khác nhau về cấu trúc và độ phân cực, nên phương thức hòa tan của chúng cũng khác nhau; do đó, cần phải lựa chọn chất hoạt động bề mặt phù hợp làm chất hòa tan. Ví dụ, vì nước hoa hồng hòa tan hương liệu, dầu và dược phẩm, nên có thể sử dụng alkyl polyoxyethylene ether cho mục đích này. Mặc dù alkylphenol polyoxyethylene ether (loại OP, loại TX) có khả năng hòa tan mạnh, nhưng chúng gây kích ứng mắt và do đó thường được tránh sử dụng. Hơn nữa, các dẫn xuất lưỡng tính dựa trên dầu thầu dầu thể hiện khả năng hòa tan tuyệt vời đối với dầu thơm và dầu thực vật, và không gây kích ứng mắt, chúng thích hợp để điều chế dầu gội dịu nhẹ và các mỹ phẩm khác.
Thời gian đăng bài: 05/12/2025
